Thục địa

Danh pháp

Tên khoa học

Rehmanniae glutinosae.

Tên tiếng Việt

Thục địa hoàng, Địa hoàng thán, Sao tùng thục địa, Địa hoàng thán, Cửu chưng thục địa sa nhân mạt bạn.

Phân loại khoa học

Họ latinh là Scrophulariaceae – Hoa mõm chó.

Mô tả cây

Địa hoàng là loại cây thân thảo cao 10 – 40cm. Toàn cây có lông mềm và có lông bài tiết màu trắng tro.

Lá dày, phiến lá hình trứng ngược hoặc bầu dục dài 3 – 15cm, rộng 1,5 – 6cm, gốc thuôn, đầu lá hơi tròn hoặc nhọn, phía cuống lá hẹp lại, mép lá có răng cưa không đều, mặt lá nhăn nheo, mặt dưới màu đỏ có gân nổi rõ, chia lá thành những múi nhỏ, gân lá chằng chịt hình mang, có lông nhỏ. Lá mọc vòng ở gốc, ít khi thấy ở thân, sát mặt đất thành hình hoa thi.

Cụm hoa màu tím sẫm hay tím đỏ, mọc thành chùm ở ngọn. Đài và tràng đều hình chuông, có 5 răng nhọn; tràng hợp thành ống uốn hơi cong, dài 3 – 4cm, mặt ngoài tím sẫm, mặt trong hơi vàng với những đốm tím, chia thành 5 cánh tròn, 4 nhị với 2 nhị lớn.

Thân rễ phù to thành dạng củ, lúc đầu mọc thẳng, sau mọc ngang. Rễ củ mập, có cuống dài, vỏ màu đỏ nhạt. Phiến dày hoặc khối không đều. Mặt ngoài bóng. Chất mềm, dai, khó bẽ gãy. Mặt cắt ngang thân rễ có màu đen nhánh, mịn bóng. Không mùi, vị ngọt.

Sinh thái

Địa hoàng là loài cây bắt nguồn từ vùng ôn đới ấm của Trung Quốc, nên khi cây được đem về trồng ở Việt Nam thường đúng vào thời kỳ nhiệt độ trong năm thấp, khi thời tiết nắng gắt, mưa nhiều, đã có thể thu hoạch.

Mùa hoa nở thường vào tháng 4 – 5, mùa kết quả thường rơi vào tháng 5 – 6.

Hình ảnh cây Thục địa
Hình ảnh cây Thục địa

Phân bố

Trên thế giới

Tập trung hầu như ở Triều Tiên và Trung Quốc.

Tại Việt Nam

Dược liệu được phân bố trải dài từ miền Bắc đến miền Nam.

Bộ phận dùng

Rễ củ đã được chế biến từ cây Sinh địa.

Thu hái, chế biến

Thu hái

Thu hoạch vào mùa thu hoặc xuân, đào lấy rễ, loại bỏ thân, lá, rễ con, rửa sạch.

Rễ của cây Thục địa được dùng làm thuốc
Rễ của cây Thục địa được dùng làm thuốc

Chế biến

Cách 1:

Lấy 10kg Sinh địa rửa sạch, để ráo. Lất 5 lít nước cho vào 300g bột Sa nhân sắc lấy 4 lít nước. Lấy nước Sa nhân tẩm vào Sinh địa rồi xếp vào khạp hay thùng men. Cho nước Sa nhân còn lại với 100g Gừng tươi giã nhỏ và nước sôi cho đủ ngập hết các củ. Đun sôi liên tục trong 2 ngày đêm, nước cạn đến đâu phải cho nước sôi vào cho đủ mức cũ, thỉnh thoảng đảo củ (chú ý nấu phải thật đều lửa và thật kỹ, nếu không sau này có nấu lại củ cũng không thể mềm được). Sau đó nấu cạn còn 1 nửa nước, vớt củ ra để ráo. Lấy nước thục còn lại pha thêm ½ lượng rượu 25 – 30°, đem tẩm và đồ trong 3 giờ, đem phơi. Làm nhiều lần như vậy cho khi cạn hết nước thục.

Cách 2:

Đem Sinh địa đi rửa sạch sau đó cho vào thùng, xếp các củ to ở dưới, củ nhỏ ở trên, củ nhỡ ở giữa. Cứ 90kg Sinh địa thêm 10L rượu. Đun to lửa cho đến sôi, tiếp tục đun nhỏ lửa từ 6 – 8 giờ đến cạn. Trong khi đun, cứ 1 giờ lại lấy phần nước ở đáy nồi tưới lên các củ cho thấm đều. Sau đó lấy Sinh địa ra phơi trong 3 ngày, rồi lại tiếp tục đem nấu lần 2 với nước Gừng. Lấy 2kg Gừng tươi giã nhỏ cho vào nước, khuấy đều, lọc lấy dịch nước và cho nấu với Sinh địa. Nấu xong tiếp tục vớt Sinh địa ra phơi khô, rồi lại nấu. Lặp lại các bước trên 5 đến 7 lần cho đến khi thục địa mềm, đen nhánh.

Cách 3: Theo Dược học cổ truyền, dựa theo kinh nghiệm các lương y.

Sấy nhẹ Sinh địa ở nhiệt độ 35 – 40°C đến khi vỏ khô se. Các ngày sau sấy ở 50 – 60°C cho đến khi củ mềm dẻo, khoảng 5 – 7 ngày thịt củ có màu đen thì lấy ra. Rải Sinh địa đã chế ra nền, ủ kín bằng bao tải đến khi có lớp mốc màu trắng mọc đều, thịt củ đen bóng, có chất dịch đen dính, củ dẻo là đạt tiêu chuẩn. Tiếp tục sất ở nhiệt độ 50 – 60° đến khi khô kiệt.

Bảo quản

Để dược liệu trong thùng, ở nơi khô mát, tránh mốc mọt.

Thành phần hóa học

Trong rễ củ Thục địa có chứa:

Iridoid glycosid: catalpol, rehmaniosid (A, B, C, D), ajugol, maltoside, aucubin. Ngoài ra còn có các iridoid: rehmaglutin (A, B, C, D) và một iridoid glucosid có nguyên tố Cl là glutinosid.

Ionone glucoside: rehmaniosid A, B, C. Ngoài ra còn có monoterpen glucoside là rehmapicrosid.

Carbohydrat gồm stachyose, sucrose, rafinose, vesbascose, maninotriose, D – glucose, D – fructose, D – manitol. Stachyose là thành phần chính của dịch chiết nước của rễ củ.

Các thành phần khác gồm 0,15 – 6,15% acid amin (ít nhất 15 acid amin tự do), 0,01% este của acid béo (methyl linolcat, methyl palmitar, methyl – n – octadecanoat), daucosterol, acid palmitic, acid sucinic, campesterol.

Monosacharid ở Thục địa có hàm lượng cao hơn gấp 3 lần so với Sinh địa.

Catalpol có hàm lượng thấp nhất sau khi được chế biến thành Thục địa.

Acid amin của Thục địa thấp hơn so với Sinh địa.

Tác dụng dược lý

Catalpol có tác dụng hạ đường huyết rõ rệt trên động vật thí nghiệm, ngoài ra còn có tác dụng lợi tiểu và nhuận.

Dùng cồn chiết suất được tinh thể màu vàng hình trâm, thí ngiệm tìm ảnh hưởng đối với thời gian đông máu trên thỏ và thấy có khả năng rút ngắn thời gian đông máu.

Tính vị, quy kinh

Cam, ôn, mùi thơm. Quy vào ba kinh tâm, can và thận.

Công năng: Tư âm, bổ huyết, ích tinh, tủy, thanh nhiệt.

Chủ trị: Can, thận âm hư, thắt lưng đầu gối mỏi yếu, cốt chưng, triều nhiệt, mồ hôi trộm, âm hư ho suyễn, háo khát, di tinh. Huyết hư, đánh trống ngực hồi hộp, rong huyết, kinh nguyệt không đều, mắt mờ, chóng mặt ù tai, táo bón.

Dược liệu Thục địa
Dược liệu Thục địa

Công dụng và liều dùng

Công dụng

Thục địa dùng trong các trường hợp thiếu máu, tim đập nhanh, rối loạn kinh nguyệt, rong kinh, chóng mặt ù tai, tóc bạc sớm. Đây là vị thuốc bổ chữa suy nhược cơ thể rất tốt.

Thục địa chữa âm hư, huyết suy, chứng nóng âm ỉ, cơ thể yếu mệt, khó thở, đái tháo đường, kinh nguyệt không đều, sáng mắt, đen râu tóc, chữa chát máu, điều kinh, bổ huyết.

Trong Y học cổ truyền Trung Quốc, Thục địa được sử dụng để chữa âm suy ở gan và thận với đau nhức và yếu thắt lưng và đầu gối, ra mồ hôi ban đêm, thiếu máu, đánh trống ngực, di tinh, đái tháo đường, rối loạn kinh nguyệt, chảy máu, tử cung, chóng mặt, ù tai, bạc râu tóc sớm.

Liều dùng

Ngày dùng từ 9 – 15g, dùng dưới dạng thuốc sắc hoặc thuốc hoàn.

Các thầy thuốc thường cho phối hợp với các thuốc khác.

Một số bài thuốc

Thận khí hoàn (Chữa suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh, ỉa chảy, mạn tính ở người cao tuổi)

Thục địa 16g; Sơn thù, Hoài sơn, mỗi vị 12g; Trạch tả, Đan bì, Phục linh, Phụ tử chế, mỗi vị 8g; Nhục quế 4g. Sắc uống.

Lục vị hoàn (Chữa suy nhược thần kinh, tăng huyết áp, xơ cứng động mạch, rối loạn chất tạo keo, thời kỳ hồi phục của các bệnh nhiễm khuẩn)

Thục địa 16g; Sơn thù, Hoài sơn, mỗi vị 12g; Tạch tả, Đan bì, Phục linh, mỗi vị 8g. Sắc uống hoặc tán bột làm thành viên, mỗi ngày uống 20g.

Tà quy ẩm (Chữa hen phế quản khi hết cơn hen)

Thục địa 16g; Hoài sơn, Kỷ tử, Phục linh, Sơn thù, mỗi vị 8g; Cam thảo. Sắc uống ngày 1 thang. Hoặc làm thành viên uống mỗi ngày 20g.

Lục vị quy thược thang (Chữa tăng huyết áp)

Thục địa 16g; Hoài sơn 12g; Sơn thù, Trạch tả, Đan bì, Phục linh, Đương quy, Bạch thược, mỗi vị 8g. Sắc uống.

Bát vị tri bá (Chữa viêm bàng quang mạn tính)

Thục địa, Hoài sơn, Hoàng bá, mỗi vị 12g; Sơn thù, Trạch tả, Đan bì, Phục linh, Tri mẫu, mỗi vị 8g. Sắc uống hoặc làm thành viên uống mỗi ngày 18 lần, chia làm 3 lần.

Đại bổ âm hoàn gia giảm (Chữa di tinh)

Thục địa 16g; Hoàng bá, Kim anh, Khiếm thực, Liên nhục, Quy bản, Tri mẫu, tủy lợn, mỗi vị 12g. Làm viên, mỗi ngày dùng 30g.

Dương hòa thang gia giảm (Chữa lao xương và lao khớp xương)

Thục địa 40g; Cao ban long 20g; Tục đoạn, Ngưu tất, mỗi vị 12g; Quế chi 6g; Bạch giới tử, Ma hoàng, Cam thảo, mỗi vị 4g. Sắc uống.

Những điều cần lưu ý khi sử dụng vị thuốc Thục địa

Kỵ sắt. Tỳ vị hư hàn không dùng.

Thục địa là vị thuốc quý rất tốt để chữa bệnh về huyết. Thục địa làm ôn và bổ thận, người nào huyết suy thì nên dùng.

Người bị đau bụng, tiêu chảy, tiêu hóa kém không nên sử dụng dược liệu này.

Đối với cơ thể thiên hàn, tích tụ khí, dịch tiết cần kiêng kỵ vị thuốc này.

Cấm sử dụng với người thiếu dương khí, vị khí hư hàn, tức ngực tuyệt đối không dùng.

Nên tham khảo ý kiến của các bác sĩ và thầy thuốc Đông y để sử dụng vị thuốc Thục địa đạt đươc hiệu quả tốt nhất cho sức khỏe.

Tài liệu tham khảo

  1. 1. Đỗ Tất Lợi (2013), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Hồng Đức.
  2. 2. Trần, C. L., Đỗ, V. M., & Vũ, T. B. (2016). Giáo trình Dược liệu học.
  3. 3. Nguyễn Nhược Kim (2007). Bào chế đông dược.
  4. 4. Trường Đại Học Dược Hà Nội – Chủ biên: PGS. TS. Nguyễn Mạnh Tuyển (2021), Dược lý dược cổ truyền, NXB Y Học.
Ngày viết:

    Để lại câu hỏi về sản phẩm

    Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc gì hãy để lại câu hỏi của bạn. Chúng tôi sẽ giải đáp ngay!



    Trả lời

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

    X