Đương quy

Danh pháp

Tên khoa học

Angelica sinensis.

Tên tiếng Việt

Tần quy, Vân quy.

Phân loại khoa học

Giới Plantae

Bộ Apiales

Họ Apiaceae – Hoa tán

Chi Angelica

Loài A. sinensis

Mô tả cây

Đương quy là một cây thảo nhỏ, đa niên, cao 40 – 60cm, có thể đến 1m khi cây có hoa. Thân hình trụ, có các rãnh dọc màu tím. Lá mọc so le, xẻ lông chim 3 lần, gốc phát triển thành bẹ to, đầu nhọn, cuống lá dài 3 – 12cm, có 3 đôi lá chét; đôi lá chét phía dưới có cuống dài, đôi lá chét trên ngọn không có cuống; lá chét lại xẻ 1 – 2 lần nữa, mép lá chia thùy và có răng cưa không đều, phía.

Cụm hoa mọc ở ngọn thân thành tán kép gồm 12 – 40 tán hoa, dài ngắn không đồng đều. Hoa rất nhỏ màu xanh trắng hay lục nhạt.

Quả bế dẹt, có rìa màu tím nhạt, thơm.

Rễ dài 10 – 20cm, gồm nhiều nhánh, thường phân biệt thành 3 phần. Phần đầu gọi là quy đầu, phần giữa gọi là quy thân, phần dưới gọi là quy vĩ. Mặt ngoài màu nâu nhạt, có nhiều nếp nhăn dọc. Mặt cắt ngang màu vàng ngà có vẫn tròn và nhiều điểm tinh dầu. Rễ có mùi thơm đặc biệt, vị ngọt, cay và hơi đắng.

Toàn thân của cây nhẵn và có mùi thơm đặc biệt.

Sinh thái

Các giống Đương quy có nguồn gốc ở vùng ôn đới. Cây được trồng từ lâu ở Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản. Cây ưa nơi khí hậu ẩm mát, đến mùa đông toàn bộ phần trên mặt đất tàn lụi, phần củ dưới mặt đất chịu đựng được băng tuyết và mọc lại vào mùa xuân năm sau.

Cây trồng Việt Nam ở vùng đồng bằng ra hoa quả sớm hơn ở vùng núi cao >1500m, những hạt giống này không được dùng để sản xuất dược liệu.

Mùa hoa quả rơi vào tháng 7 – 9.

Hình ảnh cây Đương quy
Hình ảnh cây Đương quy

Phân bố

Trên thế giới

Phân bố tại các tỉnh ở Trung Quốc và Triều Tiên.

Tại Việt Nam

Được trồng ở Sapa, Ngọc Linh (Kontum), Buôn Ma Thuột và Lâm Đồng.

Bộ phận dùng

Thường dùng phần rễ củ hay còn gọi là Đương quy để làm thuốc.

Thu hái, chế biến

Thu hái

Thu hoạch rễ củ ở những cây 3 tuổi vào mùa thu.

Rễ của cây Đương quy được dùng làm thuốc
Rễ của cây Đương quy được dùng làm thuốc

Chế biến

Sau khi đào lấy rễ củ, cắt bỏ rễ con, rửa sạch, loại bỏ tạp chất, sau đó bó dược liệu thành bó nhỏ, xếp lên giá, đốt xông nóng (không đốt trực tiếp) cho đến khi dược liệu xuất hiện màu đỏ tươi hoặc màu vàng kim tuyến rồi sấy than.

Có thể đồ chín củ rồi cán thành phiến mỏng (Đương quy phiến).

Tửu Đương quy: Đem Đương quy đã thái lát, phun rượu đều lên khắp mặt của dược liệu, ủ qua, cho vào chảo đun nhỏ lửa, sao nhẹ đến khô, lấy ra để nguội.

Bảo quản

Để dược liệu ở nơi khô mát, tránh ẩm, tránh mốc và mọt.

Thành phần hóa học

Trong Đương quy chứa tinh dầu (0,2 – 0,4%) màu vàng sẫm trong, acid hữu cơ, acid amin, vitamin, poluacetylen, sterol, ligustilid, coumarin, polysaccharid, brefeldin.

Trong tinh dầu có chứa: Các terpen, các hợp chất phenolic, các dẫn chất phtalid và các thành phần khác như acid myristic, acid nonandioic, acid camphoric, acordinen, isoacoradinen… Tỷ lệ acid tự do trong tinh dầu chiếm tới 40%.

Coumarin: umbeliferon, scopoletin, xanthotoxin, isopimpinelin, pergapten, decursin.

Acid hữu cơ: acid vanilic, acid linoleic, acid palmitic, acid nicotinic, acid sucinic.

Polysachrid khi thủy phân cho L – arabinose, D – galactose, D – glucose, L – rhamnose.

Acid amin: alanin, valin, isoleucin, serin, threonin, leucin, aspartat, glycin, acid glutamic, lysin, arginin, phenylalanin, prolin, histidin, emthionin, uracil, cholin.

Vitamin: vitamin B1, B2, E.

Polyacetylen: galcarinol, falcarindiol, falcarinolon.

Sterol: β – sitosterol, stigmasterol, β – stigmasterol – β – D – glucoside.

Tác dụng dược lý

Đương quy đã được các nhà khoa học nghiên cứu về mặt dược lý từ lâu.

Tác dụng có thắt trên tử cung và các cơ trơn

Trên tử cung, Đương quy có 2 loại tác dụng, một loại gây kích thích và một loại gây ức chế. Hoạt chất chiết từ toàn bộ vị Đương quy (dùng nước đun sắc hoặc rượu nhẹ độ thấm kiệt), tiêm tĩnh mạch cho chó đã gây mê thì thấy đối với tử cung 10 con không có chửa có 37,5% hiện tượng co, đối với chó có chửa hoặc đẻ không lâu thì 100% hiện tượng co tử cung.

Đối với các cơ quan cơ trơn khác như ruột, bàng quang cũng có hiện tượng đó, đồng thời huyết áp giảm xuống thấp và có tác dụng lợi tiểu (do tỷ lệ sacaroza cao trong thuốc). Nếu như dùng tinh thể chiết từ Đương quy ra để tiêm vào tĩnh mạch thỏ thì cũng thấy sức co bóp của tử cung tăng mạnh, nhưng huyết áp không hạ thấp mà lại tăng cao.

Khi dùng Đương quy trên lâm sàng, có tác dụng làm dịu tử cung co quắp. Dùng Đương quy chữa cho 120 bệnh nhân thống kinh, tất cả dùng 257 lần thì thấy kết quả tốt, không có triệu chứng nào không tốt, lại làm tăng sự phát dục của tử cung.

Tác dụng trên hiện tượng cơ thể thiếu vitamin E

Dùng thức ăn thiếu vitamin E nuôi chuột trong 2 – 5 tháng, 100% chuột bị bệnh thiếu vitamin E với những chứng bệnh ở tinh hoàn; nếu thâm vào thức ăn 5 – 6% Đương quy thì 38% chuột không có những triệu chứng thiếu vitamin E nữa.

Tác dụng trên trung khu thần kinh

Tinh dầu của Đương quy có tác dụng trấn tĩnh hoạt động của đại não, lúc đầu thì hưng phấn trung khu tủy sống, sau tê liệt, đưa đến huyết áp hạ thấp, nhiệt độ cơ thể hạ thấp, mạch đập chậm lại và có hiện tượng co quắp; nhưng nếu tiêm tinh dầu Đương quy dưới da thỏ thì các hiện tượng trên không xuất hiện rõ rệt, chỉ thấy liệt hô hấp trước, rồi đến liệt tim.

Tác dụng huyết áp và hô hấp

Tác dụng của tinh dầu Đương quy làm hạ huyết áp, nhưng thành phần không bay hơi của Đương quy lại có tính chất làm co cơ trơn ở thành mạch máu làm cho huyết áp tăng cao. Theo dõi tác dụng của tinh dầu Đương quy trên thỏ, mèo, chó đối với huyết áp và hô hấp thì thấy tùy theo liều lượng lớn, nhỏ tinh dầu tiêm vào mạch máu có tác dụng khác nhau.

Tác dụng làm hô hấp khó khăn đối với thỏ ít hơn so với mèo và chó, nên độ độc của Đương quy đối với huyết áp hay hô hấp rất thấp.

Tác dụng khác

Tác dụng trên tim của Đương quy giống với tác dụng của quinidin. Thành phần chủ yếu có tác dụng này nằm trong phần tan trong ete etylic.

Nước sắc Đương quy có tác dụng kháng sinh đối với trực trùng lỵ và tụ cầu trùng.

Bài thuốc Tứ vật trong có Đương quy làm thành phần đã được nghiên cứu trên bệnh thiếu máu thực nghiệm gây bằng acetat chì, có tác dụng làm tăng số lượng hồng cầu và tỷ lệ huyết sắc tố của động vật thiếu máu.

Tính vị, quy kinh

Tính cam, tân, ôn, mùi thơm, tính ấm. Quy vào các kinh can, tâm, tỳ.

Công năng: Bổ huyết, hoạt huyết, điều kinh, giảm đau, nhuận tràng, hoạt trường, thông kinh.

Chủ trị: Huyết hư, chóng mặt. Kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh, bế kinh, táo bón do huyết hư. Phong thấp tê, sưng đau do sang chấn.

Đương quy chích rượu: Dùng điều trị bế kinh, đau bụng kinh, phong thấp tê, sưng đau do sang chấn.

Toàn Quy: Hòa huyết (vừa bổ huyết vừa hoạt huyết).

Quy vĩ: Hoạt huyết hóa ứ.

Quy thân: Dương huyết và bổ huyết.

Quy đầu: Chỉ huyết.

Dược liệu Đương quy
Dược liệu Đương quy

Công dụng và liều dùng

Công dụng

Quy là về, vì vị thuốc này có tác dụng điều khí, nuôi huyết, làm cho huyết đang loạn xạ trở về chỗ cũ.

Đương quy là một vị thuốc rất phổ thông trong Đông y, thường được dùng làm thuốc trị bệnh phụ nữ, dùng trong chứng kinh nguyệt không đều, bế kinh, đau bụng kinh, rối loạn tiền mãn kinh.

Đương quy còn được dùng làm thuốc bổ huyết, trị thiếu máu, có mặt trong nhiều trang thuốc bổ trị suy nhược cơ thể và trị các bệnh khác.

Phụ nữ uống nước sắc Đương quy vài ngày trước cho tới khi đẻ sẽ dễ đẻ, làm giảm đau khi đẻ.

Ngoài ra còn chữa viêm khớp, chân tay đau nhức, tê bại, tê liệt.

Liều dùng

Dùng 4 – 9g, có thể tới 10 – 12g, dạng thuốc sắc hoặc dạng ngâm rượu.

Một số bài thuốc

Tứ vật thang (Chữa thiếu máu, cơ thể suy nhược, kinh nguyệt không đều, đau ở rốn, đẻ xong máu hôi chảy mãi không ngừng)

Đương quy, Thục địa (hoặc Sinh địa), mỗi vị 12g; Bạch thược 8g, Xuyên khung 6g; nước 600ml, sắc còn 200ml. Chia làm 3 lần uống trong ngày.

Đối với phụ nữ sau khi đẻ xuất hiện nhiều bệnh có thể dùng bài Tứ vật thêm một vài vị thuốc như Hắc can khương, Hắc đậu, Trạch lan, Ngưu tất, Ích mẫu, Bồ hoàng.

Đương quy kiện trung thang (Chữa bệnh phụ nữa sau khi đẻ thiếu máu)

Đương quy 7g; Quế chi, Sinh khương, Đại táo, mỗi vị 6g; Thược dược 10g; đường phèn 50, nước sắc 600ml, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày.

Bát vị tiêu giao tán (Chữa các chứng uất, ngoại cảm, phụ nữ can uất, nóng rét không khỏi)

Đương quy, Bạch truật, Bạch thược, Bạch linh, Sài hồ, Bạc hà, Chích thảo, mỗi vị 4g; Đơn bì, Chi tử, mỗi vị 2,8. Sắc uống trong ngày.

Giải ngải thang (Chữa phụ nữ rong kinh, rong huyết, có thai ra máu, hoặc sảy thai ra máu không dứt)

Đương quy, Sinh địa, mỗi vị 12g; Bạch thược 16g; Xuyên khung, A giao, Cam thảo, Ngải diệp, mỗi vị 8g. Sắc uống.

Ngũ tích tán (Chữa ngoại cảm, trong lạnh ngoài nóng, sợ rét, không khát, chân tay lạnh, tiêu chảy ra phân sống)

Đương quy, Quế nhục, Bạch linh, Bạch chỉ, Xuyên khung, Bạch thược, Cam thảo, mỗi vị 12g; Bán hạ 8g; Cát cánh 6g; Thương truật, Trần bì, mỗi vị 3g; Can khương 2g; Hậu phác 1,6g. Sắc uống.

Nhuận táo than (Chữa huyết nhiệt, táo bón)

Đương quy, Thục địa, Đại hoàng, Cam thảo, Đào nhân, mỗi vị 4g; Sinh địa, Thăng ma, mỗi vị 3g; Hồng hoa 1g. Sắc uống.

Thanh vi tán (Chữa răng lợi, môi miệng sưng đau, chảy máu)

Đương quy, Sinh địa, mỗi vị 1,6g; Thăng ma 2g; Hoàng liên, Mẫu đơn, mỗi vị 1,2g; thêm Thạch cao, nếu đau nhiều. Sắc uống.

Hậu thiên lục vi phương (Chữa gầy yếu, sốt về chiều, mất ngủ, ra mồ hôi trộm, thiếu máu)

Đương quy 20g, Thục địa 40g, Nhân sâm 12g, Đan sâm 8g, Viễn chí 4g, Táo nhân sao đen 4g, Táo, Gừng sống. Sắc uống.

Bổ tỳ âm phương (Thuốc bổ tỳ vị, chữa bệnh suy yếu)

Song bổ tán tà thang (Trị dương hư do thương hàn, nội thương)

Đương quy, Bạch truật, mỗi vị 8g; Bạch thược 6g; Chích thảo 4g; Gừng 3 lát. Sắc uống.

Tán kết cứu tang thang (Chữa đau rát ở bụng dưới, quanh rốn kéo lên hông)

Đương quy, Nhân sâm, Cam thảo, Phụ tử chế, mỗi vị 40g; Bạch truật 20g; Quế nhục 2g. Sắc uống.

Những điều cần lưu ý khi sử dụng vị thuốc Đương quy

Tỳ vị có thấp nhiệt, đại tiện lỏng không nên dùng.

Khi uống Đương quy để trị kinh nguyệt không đều, đau kinh hay bế kinh nên uống trước khi thấy kinh 7 ngày.

Quy đầu có tác dụng bổ máu hơn. Quy vĩ tốt cho hoạt huyết. Quy thân hoạt huyết và bổ máu.

Khi dùng Tửu Đương quy có thể làm tăng tác dụng bổ máu.

Phụ nữ có kinh nguyệt ra nhiều nên tránh dùng vì có thể làm tăng chảy máu.

Phụ nữ đang trong thời kỳ mang thai hoặc dự định có thai không nên sử dụng vì vị thuốc này có thể gây sảy thai.

Để tránh các tình trạng không mong muốn khi sử dụng, nên tham khảo ý kiến của các thầy thuốc Đông y trước khi sử dụng các bài thuốc từ vị thuốc Đương quy.

Tài liệu tham khảo

  1. Đỗ Tất Lợi (2013), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Hồng Đức.
  2. Trần, C. L., Đỗ, V. M., & Vũ, T. B. (2016). Giáo trình Dược liệu học.
  3. Nguyễn Nhược Kim (2007). Bào chế đông dược.
  4. Trường Đại Học Dược Hà Nội – Chủ biên: PGS. TS. Nguyễn Mạnh Tuyển (2021), Dược lý dược cổ truyền, NXB Y Học.
Ngày viết:

    Để lại câu hỏi về sản phẩm

    Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc gì hãy để lại câu hỏi của bạn. Chúng tôi sẽ giải đáp ngay!



    Trả lời

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

    X